Thủy châm là gì?

Thủy châm là một phương pháp chữa bệnh kết hợp Đông y và Tây y

dựa vào nguyên lý của châm cứu học , lý luận về hoạt động thần kinh của Páp-lốp và tác dụng của dược vật .Dựa vào phương pháp chuẩn đoán của Đông y để lấy huyệt theo đường kinh ,phối hợp với tác dụng của thuốc tiêm và phong hế liệu pháp , thủy châm có thể làm tăng thêm diện tích kích thích , cường độ kích thích và thời gian kích thích trong khi chữa bệnh . Do đó trong nhiều trường hợp , phương pháp điều trị này có hiệu quả cao hơn châm cứu thường

Quá Trình Phát Triển Của Thủy Châm  

Năm 1954 ,Bác sĩ Vạn Văn Kế ,Bệnh Viện Ngạc Thành Hồ Bắc ( Trung Quốc) đã mạnh dạn kết hợp tác dụng của châm cứu với sinh tố B1 , nghiên cứu thủy châm chữa được nhiều bện mà Đông Y cũng như Tây Y từ xưa cho là khó chữa như : viên khớp mạn tính , sơ gan ,di chứng bại liệt , nhiều chứng bệnh tinh thần v…..v…..

Cũng năm 1954 , các bác sĩ Lư Loan Khu , Lý Bồi Thành , Lý Đức Tuấn ( Thượng Hải ) bắt đầu thực hiện chữa bệnh bằng thủy châm ở nhiều bệnh viện , bệnh xá .Bắt đầu từ năm 1955 , thủy châm phát triển mạnh mẽ và rộng rãi trong nhiều bệnh xá ở Trung Quốc .

Qua một thời gian dài nghiên cứu và ứng dụng thủy châm trên lâm sàng , bệnh viện nhân dân số 6 Thượng Hải đã nhận định : chữa suy nhược thần kinh bằng thủy châm , hiệu quả đạt 80% _90% mà thời gian điều trị rất ngắn .

Các bệnh viện Thanh Đảo , Thiên Tân , Vũ Hán , Bệnh viện chữ Thập Đỏ Thượng Hải , . . . đều báo cáo tổng kết nêu rõ tác dụng tích cực của thủy châm trong quá trình điều trị cao huyết áp ,thiên đầu thống , hen suyễn , đau thần kinh sinh ba , chân tay tê đau ,bại , thần kinh viêm v….v… Bệnh viện Hoa Đông thủy châm no-co-ca-in vào các huyệt Mệnh môn ,Quan nguyên , Trung cực , Tam âm giao chữa được nhiều trường hợp liệt dương . Bác sĩ Lý Văn Vinh bệnh viện chữ Thập Đỏ Thượng Hải đã dùng prô-ca-in (nóng 37*) thủy châm vào các huyệt Phong Môn , Quyết Âm du chữa nhiều bệnh nhân cao huyết áp rất hiệu quả : triệu chứng giảm dần .

Hiện nay thủy châm là một phương pháp chữa bệnh có hiệu quả đang được úng dụng rộng rãi trong các cơ sở điều trị ở Trung Quốc .

Ở nước ta , một số bệnh viện , bệnh xá đã bước đầu sử dụng thủy châm trong quá trình điều trị đạt kết quả khả quan . Ngoài phương pháp dùng phi-la-tốp tiêm huyệt phối (tức là thủy châm huyệt Phế Du ), hiện nay ở một số nơi đã dùng sinh tố B1 , phi-la-tốp , nô-vô-ca-in tiêm vào vùng Thái Dương ( tức là thủy châm huyệt Thái Dương ) để chữa nhức đầu , đau đầu , tiêm vào vùng Thận ( tức là thủy châm huyệt Thận Du ) để chữa đau ngang lưng , di mộng tinh, v…v…v…v .Nhưng nói chung , phương pháp chữa bệnh bằng thủy châm ở nước ta hiện còn đang bó hẹp trong phạm vi quá nhỏ bé , chưa được phổ biến nhiều trong giới Y học . Theo nhận xét của chúng tôi có thể ứng dụng Thủy châm rất rộng rãi trong các khoa , chữa được nhiều chứng bệnh với thời gian điều trị rất ngắn mà rẻ tiền nữa . Chúng ta hãy cùng nhau đi sâu nghiên cứu và mạnh dạn ứng dụng thủy châm trong công tác chữa bệnh . Chắc chắn thủy châm sẽ giúp chúng ta giải quết được một số bệnh tật mà hiện giờ đang gặp khó khăn trong quá trình điều trị .

Nguyên Lý Của Thủy Châm

1: Theo học thuyết kinh lạc :

Thiên Hải luận sách Linh Khu nói : << Mười hai kinh mạch bên trong phụ thuộc 12 tạng phủ , bên ngoài nối với các khớp chân tay >> . Nhờ hệ kinh lạc mà các bộ phận trong cơ thể cấu thành một tổ chức hoàn chỉnh thống nhất .

Sách Thái Tố của Dương Thương Thiệu đời Tùy nói : << Mười Hai kinh mạch đi vào tạng phủ là nội kinh , đi ở tay chân và da là ngoại kinh >> . Ví dụ đường kinh phế bắt đầu từ trung tiêu (vùng thượng vị ) đi xuống liên lạc với đại trường ( đại trường và phế có cơ quan biếu lý ) , vòng lên rồi đi qua miệng trên dạ dày , trở về tạng phế qua cổ họng , rồi đi qua phía trong cánh tay ra đầu ngón tay cái . Đường kinh đại trường đi từ đầu ngon tay trỏ , qua phía ngoài cánh tay lên mỏm vai vào Khuyết Bồn ( hố trên đòn ), qua tạng phủ , xuống phủ đại trường , một nhánh nữa từ khuyết bồn lên má vào lợi răng dưới ra tới bên cánh mũi . Vì vậy , châm hay cứu các huyệt ở ngoài cánh tay  cũng do quan hệ của đường kinh nên châm hay cứu một huyệt ở bàn tay thuộc kinh đại trường ( huyệt Hợp Cốc  chẳng hạn ) mà có thể chữa được đau răng hoặc chảy máu cam . Giữa tạng này với tạng khác có quan hệ mật thiết với nhau , giữa tạng phủ và giữa đường kinh này với đường kinh khác cũng có quan hệ không thể tách rời được.

Khi nội tạng có bệnh , sẽ có phản ứng biểu hiện ra bên ngoài thân thể . khi chúng ta kích thích những bộ vị nhất định ở ngoài da cũng sẽ có phản ứng tới nội tạng . Cơ thể con người có sự liên quan chặt chẽ giữa các cơ quan và tổ chức từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên , từ trong ra ngoài , từ ngoài vào trong là do tác dụng của hệ kinh lạc . Học thuyết kinh lạc chỉ đạo tất cả các khoa trong Đông Y . Ngày nay phương pháp chữa bệnh bằng thủy châm cũng hình thành trên cơ sở những kinh nghiệm phong phú của học thuyết kinh lạc . Muốn thu được hiệu quả tốt trong công tác chữa bệnh bằng thủy châm dần đi sâu tìm hiểu lý luận đông y nói chung và học thuyết kinh lạc nói riêng .

2: Theo học thuyết Páp-lốp :

Theo Páp-lốp : << Vỏ não là cơ quan của phản xạ có điều kiện . Mọi biến hóa bệnh lý là do biến hóa cơ năng của thần kinh cao cấp gây ra >> . Bư-cốp cũng dùng phương pháp thực nghiệm chứng minh rằng : << Vỏ não quản lý mọi hoạt động của nội tạng . . . . Bệnh tật phát sinh vô luận như thế nào cũng đều có quan hệ với sự mất điều hòa về cơ năng điều tiết của thần kinh cao cấp >> .

Dựa vào lý luận về quá trình hưng phấn và ức chế của vỏ não . Vay-kin-xki qua thực nghiệm đã đúc kết thành nguyên lý << Vấn đề ức chế là chiếc chìa khóa để giải quyết vấn đề thăng bằng và điều tiết của thần kinh trung ương >> . Do đó trên lâm sàng rất coi trọng việt tăng cường ức chế có tính chất bảo vệ , nâng cao hưng phấn của vỏ não để ức chế quá trình bệnh lý của thần kinh chữa khỏi bệnh tật .

Khi thủy châm vào một bộ vị ( huyệt vị ) nào đó trên cơ thể với kĩ thuật châm đúng và chính xác sẽ truyền xung động kích thích đó vào vỏ não , rồi từ đó não phản xạ tới các cấp của hệ thần kinh để điều chỉnh tất cả các hoạt động của cơ quan nội tạng , do đó chữa khỏi bệnh . Ngoài ra trên mặt da có những điểm ( kinh huyệt) vô cùng nhỏ bé là những điểm hoạt động do cơ năng của các cơ quan nội tạng phản ánh lên mặt da , tương tự với các điểm hoạt động điện vị trên mặt da .

3: Căn cứ theo dược lý học :

Bất cứ một loại thuốc tiêm nào đã thích hợp với tiêm dưới da hoặc tiêm bắp ( trừ những loại thuốc tiêm có tác dụng kích thích mạnh quá ) thì dù tiêm vào bất cứ bộ vị nào ở dưới da hoặc bắp thịt cũng cũng có tác dụng dược lý như nhau . Do đó ta có thể chọn kinh huyệt thích ứng mà tiêm thuốc.

Ngoài tác dụng dẫn truyền của huyết dịch , thuốc được tiêm vào kinh huyệt có thể qua tác dụng của kinh lạc giúp cho cơ thể hấp thu thuốc nhanh tác động mạnh tới các bộ vị có bệnh mà chỉ cần liều lượng nhỏ ( đặt biệt là những loại thuốc có tác dụng gây hưng phấn hoặc gây ức chế các trung khu thần kinh) .

Trong khi thủy châm nói riêng về tác dụng dược lý ta thấy có rất nhiều ưu điểm :

a:  Cùng một thứ thuốc nếu tiêm vào huyệt vị thích ứng trên cùng một bệnh nhân tác dụng dược lý mạnh hơn khi không tiêm vào huyệt vị .

b: Cùng một thứ thuốc nếu tiêm vào huyệt vị thích ứng trên cùng một bệnh nhân chỉ cần liều lượng ít cũng vẫn có tác dụng dược lý mạnh như dùng liều lượng nhiều mà không tiêm theo huyệt vị ( điểm này có thể tham khảo để giảm bớt liều lượng các vị thuốc độc bảo đảm an toàn cho bệnh nhân ) .

c: Phối hợp thuốc với châm còn có ưu điểm là : cùng một lúc giải quyết được nhiều chứng bệnh khác nhau . Như đau bụng kịch liệt có thể gây huyết áp hạ ; khi dùng A-drenalin thủy châm huyệt Thiên Khu hoặc huyệt Trung quản thì : tác dụng của châm có thể chưa khỏi đau bụng , còn bản thân của A-drenalin sẽ phòng ngừa được huyết áp hạ .

Từ các kết luận khoa học nói trên các nhà nghiên cứu học thuyết Páp-lốp trên lâm sàng tất coi trọng phương pháp trị liệu toàn diện , tăng cường ức chế bảo vệ nâng cao hưng phấn của vỏ đại não , ức chế quá trình bệnh lý thần kinh để chữa mọi bệnh tật .

Dựa vào các lý luận chỉ đạo của Đông Y và Tây Y các nhà trị liệu học kết hợp nguyên lý của châm cứu học với nguyên lý của học thuyết Páp-lốp tiến hành nghiên cứu phương pháp trị liệu bằng cách tiêm vào huyệt để phát huy tác dụng điều tiết trên hệ thần kinh lạc và vỏ đại não .

 

Nếu bạn thấy bài viết này hay thì hãy chia sẻ giúp website:

Có Thể Bạn Quan Tâm

Trading Casino X za Vavada uz bolje bonuse

Trading Casino X za Vavada uz bolje bonuse

Trading Casino X za Vavada uz bolje bonuse Od siječnja pratim 47 sesija i brojke su jasne: pri prijelazu igrača...

Chứng Huyết Ứ

Chứng Huyết Ứ

Khái niệm Chứng huyết ứ là tên gọi chung chỉ chứng huyết đi không lưu thông thậm chí đình trệ...

Khô Khớp Gối là gì ?

Khô Khớp Gối là gì ?

Khô khớp gối là hiện tượng đầu gối phát ra tiếng kêu lạo xạo , mỗi khi cử động kèm...

Viêm Khớp Thái Dương Hàm  ( phương pháp cấy chỉ )

Viêm Khớp Thái Dương Hàm ( phương pháp cấy chỉ )

-Phác đồ cấy chỉ : Thân trụ (đốc) Phế du ( Bàng quang ) Thái Dương ( Kỳ huyệt )...

Viêm quanh khớp vai – Lậu Kiên Phong

Viêm quanh khớp vai – Lậu Kiên Phong

Viêm qaunh khớp vai - Lậu Kiên Phong là chứng đau vai kinh niên , đau có tính cố định...

Viêm Gân Cơ Nhị Đầu Ngắn là gì ???

Viêm Gân Cơ Nhị Đầu Ngắn là gì ???

Gân cơ nhị đầu cánh tay là gân chạy trong rãnh phần mặt trước của cánh tay . Viêm gân...